Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013
Tâm sự của tôi
VÌ SAO TÔI KHÔNG ĐĂNG KÝ THI ĐUA?!?!?!.
(Trích
bài phát biểu nhân Hội nghị CBVC đầu năm học 2013-2014 của trường)
****************
.....................
Để trả lời câu hỏi: “Vì sao tôi không
đăng ký thi đua” kể từ đầu năm học rồi, tôi xin mạo muội trình bày mấy lý do cơ
bản như sau:
-Trước hết vẫn là lý do về sức khỏe.
Tiền đồ và sự nghiệp giáo dục ở địa phương đã vắt kiệt sức lực và trí não của
tôi rồi. Tôi không mong ước gì hơn là được tiếp tục phục vụ trong ngành (gần 4
năm nữa) cho đến tuổi nghỉ hưu với vai trò một giáo viên bộ môn Toán;
-Chừng như ngày càng có nhiều chỉ tiêu
thi đua đã “quá hớp” (vượt khỏi sức chịu đựng) với khả năng và và sức phấn đấu
của mình, đang khi trình độ “đầu vào” và chất lượng thật của học sinh thì sa
sút dần.
Tôi đã sớm ý thức được rằng thi đua là
một mãng không thể thiếu trong đời khi mới bước chân vào giảng đường Đại học.
Nhờ có thi đua mà tôi đã thành sinh viên xuất sắc của trường với phần thưởng dù
dăm ba quyển sách nhưng rất có giá trị thời bấy giờ (Thép đã tôi thế đấy, Bài
ca sư phạm, Giáo dục con người chân chính như thế nào, Tình bạn vĩ đại và cảm
động, …). Nhờ thi đua mà tôi đã quẳng gánh gia đình tham gia xóa dốt tận Ba Thê
(Thoại Sơn), Ba Chúc, Tú Tề (Tri Tôn, Tịnh Biên), … trong những năm đầu sau
giải phóng. Chính nhờ có thi đua mà tôi “bám trụ” ngành giáo dục cho đến bây
giờ sau những năm vật vã với “giá – lương – tiền”, với cuộc sống đầy rẫy những
cam go thử thách.
Trong suốt chặng đường dài – trên 36
năm cống hiến cho sự nghiệp trồng người và những nhiệm vụ vệ tinh chung quanh,
Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục và các tổ chức đoàn thể đã trao cho tôi rất
nhiều giấy khen, bằng khen và tặng kèm theo tài vật. Giấy khen, Bằng khen của
tôi không đủ chỗ để treo nhưng số tiền khen thưởng chỉ mang tính tượng trưng,
danh nghĩa giống như bản thân tiền lương lúc đó.
Chính những Giấy khen, Bằng khen ấy đã
tôi luyện, đã hun đúc, đã thắp sáng, đã đốt lên trong tôi ngọn lửa nhiệt thành
cách mạng, nung nấu bầu nhiệt huyết với ngành nghề, với đàn học sinh thân yêu
qua bao thế hệ. Nhưng có một số Giấy khen, Bằng khen đã làm cho tôi bị hụt
hẫng, bị choáng ngợp, bị sa ngã, … để rồi chính nó đã thui chột tình nghĩa thầy
– trò, đã thiêu rụi tinh thần trách nhiệm, làm tàn lụi dần lương tâm cao cả của
một nhà giáo chân chính.
Nhớ lại, khi được cấp trên cho miễn
nhiệm hiệu trưởng – năm học 2003-2004, tỉ lệ học sinh đạt điểm trên trung bình
do tôi phụ trách chỉ xấp xỉ 62%. Vài ba năm học sau, tỉ số nầy có nhỉnh lên đôi
chút. Nhưng không phải vì chất lượng thật trong học sinh chuyển biến theo hướng
tích cực mà do sự tiêu cực trong kiểm tra, đánh giá của người thầy.
Cho đến khi, tôi không chịu nổi những
lời chanh chua, chì chiết của Ban Giám hiệu, những câu dè biểu của đồng nghiệp
chung quanh, nhất là sự tỉ tê, to nhỏ của các thành viên trong tổ: “Thầy không
nghỉ (quyền lợi) của thầy, thầy cũng nên suy nghĩ cho tập thể anh em trong tổ”.
Từ đó, tôi đã hóa thân thành một “nhà phù thủy” khá thành công. Nhưng khốn nạn
và tàn nhẫn là tôi đã phù phép trên những tâm hồn trẻ thơ, non dại của học trò
thân yêu của mình. Lẽ ra, chúng không nên truyền tải, tiếp nhận những “mưu ma,
chước quỉ” đó.
Những tháng đầu sau khai giảng hoặc
trước khi kết thúc năm học, tôi vẫn vậy – vẫn nghiêm túc trong kiểm tra, đánh
giá học sinh một cách khoa học, vô tư và công bằng, có chú ý đến đối tượng học
sinh. Nhưng, để thống kê, báo cáo chất
lượng dạy – học ở học kỳ I “tạm coi cho được”, “không kém em thua chị bao
nhiêu”, tôi đã miễn cưỡng “ma thuật” các con điểm cho nhiều học sinh xét thấy
có điều kiện. (Đây là một khoảng trống khá sâu và rộng trong công
tác quản lý chuyên môn của trường ta mà đã có nhiều giáo viên lợi dụng sơ hở
đó). Bởi dù có tăng cường tối
đa số lượt kiểm tra cho mỗi đối tượng, song vẫn không thoát khỏi cảm tính. Vậy
là từ 60% học sinh có điểm trên trung bình đã dần dà lên 65 rồi 70, 75%. Gần
tới sơ kết học kỳ II và tổng kết cả năm tôi cũng tiếp tục chiêu bài ấy. Nhưng
tỉ số phải tiệm cận với chỉ tiêu của trường hoặc chí ít là đứng trong tốp 4,
tốp 3 để dành lấy một suất Lao động tiên tiến của Tổ.
Thật không ngoa: “ăn trộm quen tay,
ngủ ngày quen mắt”. Ban đầu thì lương tâm cắn rứt và dằn vặt lắm. Nhưng lâu dần
thành cố thật, thoát ly hoặc đoạn tuyệt nó thì không dễ dàng. Tuy nhiên, sau
mỗi lần Tổ trưởng xướng tên: “Thầy Út có tỉ lệ học sinh trên trung bình nằm ở
thứ hạng 2, 3” là tôi xấu hỗ đến thừ người ra, không biết chỗ đâu mà chui rút.
Thôi, hãy để tôi tự tìm về hiện thực
cuộc sống với đầy ấp tình người, chan hòa yêu thương chân thật mà làm thật tốt
thiêng chức của một người thầy đúng nghĩa. Để mai sau, khi có dịp gặp lại các
thế hệ học trò, tôi khỏi phải cúi đầu hỗ thẹn khi trước đây tôi có lúc đã làm
nhà phù thủy.
Kính chúc sức khỏe quí thầy cô.
Đêm giữa Thu, 15/9/2013.
Nhungnutthathocduong@gmail.com Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013
Cái "đầu tóc"
CÁI “ĐẦU TÓC’
************
Tôi
nhớ lại, năm đầu tiên mới làm hiệu trưởng của một trường phổ thông cơ sở (có
hai cấp học: I và II). Một buổi chiều cuối Thu-1988, tôi đến chơi nhà anh ba Ch. –
thầy giáo tạm tuyển kiêm kế toán của trường. Anh tiếp tôi rất niềm nở và trân
trọng. Khi hỏi thăm chị nhà – chị ba đi đâu vắng, anh ba bật cười nắc nẻ nhưng có
chút ngượng nghịu. Cười nắc nẻ vì không sao nhịn được còn ngượng nghịu vì liên
quan vấn đề riêng tư khá tế nhị. Giây lâu, anh thốt lên: “Bả đi uốn tóc”. Anh
ba cũng không kềm được và tiện miệng nói: “Bả ghen đấy mà” và nói tiếp “Ông
cũng biết, tôi đâu phải mê chỗ đó (ý nói đầu tóc) mà là chỗ khác cơ”.
Thì
ra, một hai năm gần đây, khi được hợp đồng giảng dạy các lớp cấp một và mới đây
là kiêm nhiệm kế toán, anh ba thường xuyên đi sớm về tối để liên hệ công tác
tài chính với Phòng Giáo dục, với Kho bạc huyện, giao phó công việc mua bán lặt
vặt như gia vị, trái cây, … cho vợ con. Chị ba thì đầu tắt, mặt tối lo chạy vạy
cái ăn, cái mặc cho bốn năm miệng ăn và quần áo, sách vở cho lũ nhóc nhỏ đang
trong tuổi đến trường. Chị ba là “phụ nữ Bắc kỳ” mà, lam lũ lắm, tất tả lắm.
Ống quần to phình, nhiều ngày không là ủi, nhăn nhúm lại. Áo thì xốc xếch, cũ
mèm, ôm lấy cái thân “nhiều da hơn thịt” của chị, chỉ có hai cái túi thì xộc
xệch những đồng tiền lẻ, mang sẵn bên mình để dễ bề phồi thối. Đầu tóc thì quanh
năm suốt tháng chẳng mảy may chải gở, chị chỉ bới vội “một cục” sau gáy cho
đúng “thủ tục”. Chị chưa qua cái tuổi bốn mươi mà xem chừng như đã ngoài sáu
chục.
Ngược
lại với chị, anh ba thì ăn diện bãnh bao hơn, quần áo mượt mà thẳng tấp, đầu
tóc luôn tay chải chuốt - rẻ đường ngôi ngay ngắn, … bên chiếc xe đạp “toàn là
nhôm du-ra” đắt tiền, mỗi khi bước ra đường. Thỉnh thoảng còn bắt gặp anh đứng
đâu đó cười nói chuyện huyên thuyên, vui vẻ với cô nầy, bà nọ, nhất là những nữ
phụ huynh học sinh góa bụa. Có thể vì thế mà chiều nay, chị ba đã giao sạp trái
cây cho đứa con gái lớn, quên bẳng việc “thu nhặt tiền nong” để lo đi “làm
đẹp”.
Trao
đổi với anh ba mươi phút thì chị ba về. Chị mắc cở, e thẹn, nhanh nhẹn chào
khách rồi lẻn nhanh vào nhà trong, tôi lén nhìn chị từ phía sau. Lúc nầy anh
ba, mặt đỏ như gấc, vừa xấu hổ với tôi, vừa bực bội cho cách làm chẳng giống ai
của vợ mình. Thì ra, mái tóc uốn cuộn ngắn lên đen nhánh không che hết chiếc áo
nhũn lưng, nhăn nhúm đang phô diễn các “đường cong” của xương sườn và chiếc
quần ống rộng thùng thình bị thời gian nhuộm màu vàng bạc đưa ra khúc cẳng –
mắt cá – ngón chân đen đủi, sần sụi. Có lẽ, trong thâm tâm anh ba lúc bấy giờ
muốn “tặng không cho bất kỳ ai đó cái sản phẩm trời cho ấy” mà không đòi ở họ
một xu nào – còn rẻ hơn cả trái đu đủ héo nằm sóng xoài trên sạp kia.
Thấy
chuyện người ngày xưa mới nhớ đến chuyện mình ngày nay. Nhiều người cứ nghĩ
rằng: “Nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh trong các nhà trường
phổ thông hiện nay là ở chỗ:
-Phải
giao nộp hồ sơ sổ sách (HSSS) đúng hạn cho Tổ trưởng, Hiệu phó chuyên môn “ký
duyệt” cho dù họ chỉ “ký” chứ không “duyệt”;
-Trong
giáo án phải ghi rõ ngày dạy, thời gian cho mỗi hoạt động, mỗi bước lên lớp,
cho dù có mấy ai “xem giáo án để dạy” bao giờ;
-Trong
các sổ : Dự giờ và các trang cuối của sổ Gọi tên ghi điểm (GTGĐ), Đầu bài, …phải
có đầy đủ các chữ ký tương ứng của các đối tượng ?!!!;
-Có
ghi “ký mượn” đồ dùng dạy học (ĐDDH), đăng ký đủ 2 tiết ứng dụng công nghệ
thông tin (ƯDCNTT)/học kỳ, …”
Chị
ba kính mến ơi: “Ngày nào chị chỉ quan tâm đến “cái đầu” mà quên đi “cái
đít” thì ngày đó chị không giữ được chồng”. Và các thầy – cô giáo ơi:
“Ngày nào chúng ta còn sa đà vào những cái vặt vãnh gọi là “chuyện
mòn” (đọc nhại từ chuyên môn, hay dùng) ấy thì ngày đó
học
sinh đã vào trong lớp nhưng vẫn còn đang ở ngoài trường”.
Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012
Thăm gia đình học sinh - sinh viên nghèo hiếu học
MỘT GIA ĐÌNH HIẾU HỌC ĐÁNG TRÂN TRỌNG.
******************
Lần dò theo lời kể của em Đức – đứa
học trò cũ để tìm đến nhà chị Lê Ngọc Ánh 56 tuổi, nhà số 344, ấp An Ninh, xã
Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để biết rõ thiệt hư về một gia đình nghèo
hiếu học đáng nễ. Chúng tôi đến nhà thì trời đã gần chập tối. Tôi tranh thủ lấy
máy ra chụp mấy tấm: cảnh nhà, ngôi mộ của chồng và nội thất nhà chị. Đồng thời
tôi cũng hỏi thăm người hàng xóm về nền nếp sinh hoạt và mối quan hệ giao tế
của chị, bởi lúc đó chị Ánh đi bán vé số chưa về kịp.
Chúng tôi ngồi bệt xuống nền nhà bằng gạch
tàu còn mới. Được biết căn nhà tình nghĩa nầy được chính quyền địa phương vừa cất
cho trong diện hộ nghèo, tổng giá trị khoảng 20 triệu, trong đó chị Ánh phải bù
thêm 8 triệu. Số tiền 8 triệu nầy được nhà nước cho vay, chậm tính lãi sau 3
năm. Lát sau thì chị Ánh cũng về tới trên chiếc xe đạp cũ kỹ với đầy ấp những chai mũ trên giỏ. Cứ
mỗi lần đi bán vé số là chị thu nhặt các vỏ chai mũ bên vệ đường hay trong các
tiệm quán, khách uống xong quăng xó đâu đó. Nhiều ngày gom lại, chị bán phế
liệu cũng được ít tiền.
Chồng chị tên Nguyễn Công Toàn, quanh
năm suốt tháng chỉ với nghề bóc vác lúa, gạo cho nhà máy xay xát gần đó. Có lẽ
do công việc vất vả, cực nhọc lại không được kiểm tra sức khỏe thường xuyên để
điều trị kịp thời. Đến khi ngã bệnh thì đã quá nặng không cứu chữa được, anh đã
từ giã cõi đời vào ngày 24 tháng 11 năm Ất Dậu – 2005, hưởng dương 46 tuổi với
chứng bệnh xuất huyết não.
Anh ra đi bỏ lại ba đứa con đang tuổi
ăn, tuổi học. Cảnh nhà túng quẩn lại càng túng quẩn hơn. Vì đã mất đi một lao
động chính, rường cột và là chỗ dựa về kinh tế cho cả gia đình. Mai táng cho
chồng xong, chị Ánh lại tiếp tục cái nghề đi bán vé số, để nuôi sống gia đình và
cho 3 con ăn học tấn tới. Bởi gia đình không có tư liệu sản xuất ngoài hai bàn
tay trắng để bóc vác của chồng và mua bán vé số của chị. Đã nhiều lần, người
thân hoặc hàng xóm đau xót trước cảnh tình của chị, khuyên chị cho hai đứa con
lớn nghỉ học để đỡ đần việc gia đình. Nhưng chị kiên quyết cho các con ăn học
đến nơi đến chốn. Bởi chị nghĩ, có đi học mới thoát khỏi cảnh nghèo, còn nếu
các con ở nhà tiếp mẹ thì đói khổ vẫn hoàn đói khổ.
Ý thức được tâm ý của mẹ, thấu rõ hoàn cảnh gia đình
thiếu trước hụt sau và cảm thông trước nỗi đau mất chồng và sự tần tảo của mẹ,
các con của chị cố công học tập và tiếp tay mẹ làm bất kỳ công việc gì có thể
được. Đến nay, cả ba đứa con của chị đều đã bước vào ngưỡng cửa đại học. Cụ thể
là:
+Đứa con trai lớn, Nguyễn Công Minh,
sinh năm 1991, hiện là sinh viên năm thứ 4, trường Đại học Y dược Cần Thơ,
ngành Bác sĩ Y học dự phòng;
+Con gái kế tên Nguyễn Kiều Loan, sinh
năm 1993, sinh viên năm thứ 2, trường Đại học Y dược Cần Thơ, cũng ngành Bác sĩ
Y học dự phòng;
+Đứa con út, Nguyễn Hoài Phương, sinh
năm 1994, sinh viên năm thứ 1, trường Đại học Cần Thơ, ngành Kỹ thuật môi
trường.
Ba anh em của chúng thương yêu đùm bọc
lẫn nhau, biết nương tựa vào nhau mà sống để đeo đuổi việc học. Cháu Công Minh
và Kiều Loan đã phấn đấu hết sức mình để sớm ổn định việc ăn học bằng cách dạy
kèm cho con, em các gia đình ngoại ô thành phố Cần Thơ. Rõ ràng tại cái xứ sở
phồn hoa đô hội để tìm một công việc có thu nhập chính đáng và tạm chấp nhận
được thật không dễ dàng chút nào. Nên hai cháu phải vất vả lắm mới xoay xở được
để lo cho cái ăn, cái mặc, tiền trường, tiền điện, tiền nước.
Chú Năm hàng xóm, gần nhà chị Ánh kể
lại: mười mấy năm qua, ở sát bên nhà, tôi không thấy các cháu ăn quà vặt. Sáng
nào thím Ánh cũng thức dậy thật sớm nấu một nồi cơm, nếu hôm đó có thức ăn,
bằng không thì nồi cháu trắng, rồi cả nhà cùng quay quần bên mâm cơm, cháo đạm
bạc. Xong rồi, chồng đi vác lúa mướn, vợ đi bán vé số, các con thì đi học. Hình
như các cháu ở đây quanh năm suốt tháng chẳng biết ăn quà vặt là gì!!!. Chú
cũng kể lại, có hôm gần tới giờ xổ số, trời mưa bán ế, trên tay cầm dăm bảy tờ vé, chị hớt hơ hớt
hải chạy đến từng nhà hàng xóm nài nỉ mua dùm mà quên cả thân mình đẫm ướt.
Hiện nay, khổ tâm và nỗi lo lắng nhiều
nhất tập trung cho thằng út Nguyễn Hoài Phương. Bởi nó mới vào đại học năm thứ
I, chân ướt chân ráo ở xứ lạ quê người, chỉ có học chứ chưa tìm được việc làm
để phụ mẹ trong các khoản chi tiêu của mình, đành phải chìa tay xin mẹ vài trăm
ngàn đồng bằng tiền bán vé số của mẹ dành dụm được. Anh Minh, chị Loan cũng đã
tằng tiện, chắt chịu để bù đắp cho đứa em út của mình.
Lúc tiếp chuyện với chúng tôi, dù nhuễ
ngoại mồ hôi, do chạy xe đạp cả chục cây số về nhà, nhưng chị vẫn nở nụ cười
hãnh diện khi đưa cho chúng tôi xem những giấy khen, bằng khen và các giấy
chứng nhận thành tích học tập của các con. Đặc biệt là cháu Công Minh đã đạt
nhiều giải cấp tỉnh và cấp quốc gia.
Chúng tôi len lén nhìn chị mà chạnh lòng không sao
kềm chế được sự xúc động. Bởi với cái tuổi nầy hầu hết phụ nữ đã nghỉ hưu, đã
không tham gia lao động. Còn chị thì tảo tần sớm hôm với công việc bán vé số.
Mỗi ngày chị phải đi lại hàng chục cây số trên mọi nẻo đường, tiếp xúc hàng
trăm người bằng những lời chào mời ngon ngọt để mong sao những tờ vé số trên
tay vơi dần. Ngoài việc đảm bảo hai bữa cơm sáng chiều, còn phải chắt chiu gửi
đến các con ăn học.
Thanh thót, nhanh nhẹn là vậy, nhưng khi về đến nhà,
tay chân chị như rã rời, nhức mõi. Cơn bệnh sỏi thận cũng không buông tha cho
chị, nó cứ đeo đẳng để hành hạ chị. Không biết khi chị ngã lăn ra bệnh thì việc
gì sẽ xảy ra.
Thật là một gia đình hiếu học đáng trân trọng và cần
lắm sự giúp đỡ của bao người.
Đêm đầu
Đông, ngày 03 tháng 11 năm 2012. Thamgiadinhhocsinh@gmail.com.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

